ẢNH HƯỞNG CÁC MỨC ĐẠM TRONG THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ TAI TƯỢNG (Osphronemus goramy) GIAI ĐOẠN GIỐNG

Các tác giả

  • Lê Quốc Phong Khoa Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Tiền Giang Tác giả liên hệ

DOI:

https://doi.org/10.62985/j.huit_ojs.vol26.no1E.342

Từ khóa:

Cá tai tượng, mức đạm, sinh trưởng, tỷ lệ sống

Tóm tắt

Nghiên cứu ảnh hưởng các mức đạm trong thức ăn đến khả năng sinh trưởng, tỷ lệ sống được tiến hành để xác định mức đạm phù hợp nuôi cá tai tượng (Osphronemus goramy) giống. Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức thức ăn NT1, NT2, NT3 và NT4 tương ứng với các mức đạm là 20%, 25%, 30% và 35% đạm, lặp lại 3 lần. Cá tai tượng (cỡ 10,93 ± 0,41 g/con) bố trí ngẫu nhiên trong 12 bể composite (200 L/bể) với mật độ 50 con/bể. Sau thời gian 8 tuần cho ăn thí nghiệm, kết quả cho thấy các mức đạm trong thức ăn không ảnh hưởng đáng kể (p>0,05) đến tỷ lệ sống của cá tai tượng. Nghiệm thức NT3 (30% đạm) đạt các chỉ tiêu về sinh trưởng cao nhất (WG = 11,98 g; DWG = 0,21 g/ngày), chỉ tiêu về hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR = 1,13) thấp nhất và không có sự khác biệt thống kê (p>0,05) so với nghiệm thức NT4 (35% đạm). Ngoài ra, chi phí thức ăn đạt thấp nhất (27.235 đồng/kg) ở nghiệm thức cho cá ăn thức ăn 30% đạm (NT3). Như vậy, mức đạm trong thức ăn thích hợp để nuôi cá tai tượng ở giai đoạn giống là 30% đạm.

Tài liệu tham khảo

[1] D. N. Long, “Giáo trình kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt”, Trường Đại học Cần Thơ, 2003.

[2] Y. H. Rahmawan, R. R. Hakim and G. A. Sutarjo, “Effect of differences in stocking density in round tarpaulin ponds on growth and survival of Osphronemus goramy”, Indonesian Journal of Tropical Aquatic, vol. 3, no. 1, pp. 14-19, 2020, doi: http://dx.doi.org/10.22219/ijota.v3i1.5973.

[3] N. T. N. Anh, N. T. Toàn và T. N. Hải, “Khả năng sử dụng rong bún (Enteromorpha sp.) và rong mền (Cladophoraceae) khô làm thức ăn cho cá tai tượng (Osphronemus goramy)”. Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Cần Thơ, số 35, trang 104-110, 2014. [Online]. Available: https://ctujsvn.ctu.edu.vn/index.php/ctujsvn/article/view/1369.

[4] P. P. Loan, N. T. K. Ha and D. T. T. Huong, “The effect of temperature on digestive enzymatic activities and growth performance of giant gourami (Osphronemus goramy) fingerlings”. AACL Bioflux, vol. 16, no. 3, pp. 1722-1731, 2023.

[5] L. T. Hùng, “Thức ăn và dinh dưỡng thủy sản”. Nhà xuất bản nông nghiệp - Thành phố Hồ Chí Minh, 299 trang, 2008.

[6] T. T. T. Hiền và N. A. Tuấn, “Dinh dưỡng và thức ăn thủy sản”, Nhà xuất bản Nông nghiệp - Thành phố Hồ Chí Minh, 191 trang, 2009.

[7] T. Q. Phú, N. L. H. Yến và H. T. Giang, “Giáo trình quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản”, Khoa thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ, 199 trang, 2006.

[8] T. B. Hồ và N. T. Lư, “Kỹ thuật nuôi thủy đặc sản nước ngọt (Tập 2)”, Nhà xuất bản Nông Nghiệp - Thành phố Hồ Chí Minh, 98 trang, 2006.

[9] C. E. Boyd, “Water quality for pond aquaculture”, Alabama Agriculture Experiment Station, Auburn University, Research and Development series, pp. 37, 1998.

[10] D. S. Budi,. Alimuddin and M. A. Suprayudi, “Growth response and feed utilization of giant gourami (Osphronemus goramy) juvenile feeding different protein levels of the diets supplemented with recombinant growth hormone”, Hayati Journal of Biosciences, vol. 22, no. 1, pp. 12-19, 2015, doi: https://doi.org/10.4308/hjb.22.1.12.

[11] S. Sema, D. Yuthayong and N. Khongkum, “Effect of different protein and energy levels on growth of young giant gourami (Osphronemus goramy Lacepede)”, Proceedings of 41st Kasetsart University Annual Conference, pp. 426-434, 2003.

[12] T. N. Tuyền và N. V. Triều, “Ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá trê vàng (Clarias macrocephalus) giai đoạn cá bột lên cá giống”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế, Trường Đại học Tây Đô, số 2, trang 72-80, 2017.

[13] M. V. Tùng, N. T. Hậu và T. T. N. Thu, “Ảnh hưởng của mật độ nuôi và hàm lượng protein trong thức ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá lóc đầu nhím (Channa sp.) nuôi thương phẩm”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tập 16, số 11, trang 939-948, 2018.

[14] Đ. V. Thịnh, T. T. M. Hương, N. T. B. Thùy, C. T. L. Chi và L. V. Khôi, “Ảnh hưởng của các mức protein khác nhau trong thức ăn tới sinh trưởng của cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) nuôi thương phẩm”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hùng Vương, tập 22, số 1, trang 72-79, 2021.

[15] T. N. Tuyền và N. V. Triều, “Ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng protein khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc (Channa striata) giai đoạn 10 đến 40 ngày tuổi”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế, Trường Đại học Tây Đô, số 11, trang 241-251, 2021.

[16] N. V. Triều, T. N. Tuyền, T. T. T. Hiền, D. N. Long và N. A. Tuấn, “Xác định nhu cầu đạm của cá kết (Micronema bleekeri Gunther, 1864) giai đoạn giống”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, số chuyên đề thủy sản, trang 229-235, 2014.

[17] FAO, “Osphronemus goramy (Lacépède 1801). Cultured Aquatic Species Information Programme”. Text by Caruso, D., Arifin, Z.O., Subagja, J., Jacques Slembrouck, J. and New, M.. In: Fisheries and Aquaculture. Accessed May, 7th, 2026. [Online]. Available: https://www.fao.org/fishery/en/culturedspecies/osphronemus_goramy/en.

[18] N. Aryani, Azrita, A. Mardiah and H. Syandri, “Influence of feeding rate on the growth, feed efficiency and carcass composition of the giant gourami (Osphronemus goramy)”, Pakistan Journal of Zoology, vol. 49, no. 5, pp. 1775-1781, 2017, doi: http://doi.org/10.17582/journal.pjz/2017.49.5.1775.1781.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2026-05-15

Số

Chuyên mục

Sinh học